Những ngày cuối tháng 11-1972, bọn mình đi chiến dịch . Tôi công tác ở xã Thới An Đông , Cần Thơ , cùng với Nguyễn Văn Ly , chuẩn uý Nguễn Văn Á . Sau này còn có Trần Thanh Nguyên 321 tăng cường . Thới An Đông là một xã nửa quê, nửa chợ . SôngTrà Nóc chảy bọc quanh xã , rồi đổ ra sông Hậu . Tỉnh lộ 72, quốc lộ 91 bây giờ , chạy cắt ngang qua , rồi kéo dài đến tận Châu Đốc . Bên kia sông là sân bay quân sự Trà Nóc . Trụ sở xã nằm cặp theo sông , cách cầu Trà Nóc hơn 1 cây số .
Thursday, December 9, 2010
NOEL KỶ NIỆM
Những ngày cuối tháng 11-1972, bọn mình đi chiến dịch . Tôi công tác ở xã Thới An Đông , Cần Thơ , cùng với Nguyễn Văn Ly , chuẩn uý Nguễn Văn Á . Sau này còn có Trần Thanh Nguyên 321 tăng cường . Thới An Đông là một xã nửa quê, nửa chợ . SôngTrà Nóc chảy bọc quanh xã , rồi đổ ra sông Hậu . Tỉnh lộ 72, quốc lộ 91 bây giờ , chạy cắt ngang qua , rồi kéo dài đến tận Châu Đốc . Bên kia sông là sân bay quân sự Trà Nóc . Trụ sở xã nằm cặp theo sông , cách cầu Trà Nóc hơn 1 cây số .
Tuesday, December 7, 2010
TẢN MẠN CHUYỆN ANH EM MÌNH
Hôm nay tôi có đôi lời để bộc bạch cùng anh em . Chúng ta hầu hết đã bắt đầu bước qua tuổi 60. Thời tuổi trẻ chúng ta đã qua . Khi còn ở giảng đường , chúng ta cố gắng hai , ba năm để hoàn tất chương trình đại học . Với tấm bằng cử nhân , kỹ sư , chúng ta sẽ lo cho cuộc sống bản thân , gia đình . Sau đó mới tính chuyện giúp đời , giúp nước . Đó là con đường công danh bằng văn nghiệp mà ta đã định hướng . Nhưng chúng ta không đi được hết con đường mà mình đã lựa chọn , bị bắt buộc phải rẽ sang con đường binh nghiệp . Chúng ta phải cầm súng ra chiến trường đối diện với kẻ thù . Kẻ thù của chúng ta là ai ? Cũng con người máu đỏ da vàng , nói tiếng việt , nhưng khác chí hướng . Sau đệ nhị thế chiến , thế giới đã hình thành hai thái cực . Mỗi bên lệ thuộc phải bị đi vào quĩ đạo bắt buộc . Cuộc chiến quyết liệt nào rồi cũng có kẻ thắng người thua .
20 năm , 30 năm , 35 năm , các bạn được định cư ở xứ người bằng những con đường khác nhau . Nhưng các bạn cũng đổ mồ hôi , nước mắt , để xây dựng lại cuộc sống mới . Người ta cho bạn cái cần câu để bạn tự câu cá . Muốn có cá to phải ra sông dài biển rộng . Ở ao hồ sông lạch chỉ có cá bé mà thôi . Hầu hết các bạn đều có cuộc sống ổn định . Con cái các bạn đều đã khôn lớn . Cũng có cháu đã lập gia đình . Các bạn sống vì ai ? Vì những đứa con mà ta đã tạo dáng hình hài cho nó . Sợi dây thiêng liêng đã ràng buộc gia đình .
Chúng tôi những người ở lại . Thời gian đầu cũng quần quật suốt ngày , cuộc sống ban đầu cũng khó khăn . Với một chiếc xe đạp thồ 100kg hàng trên yên , một ngày vượt 60km hai lượt đi về , tôi vẫn đủ nuôi 3 đứa con và tích luỹ tài sản của cải . Trước đó có lý thuyết cho rằng thế giới phải tiến tới cộng đồng . Con người phải cào bằng , ai cũng có cơm ăn áo mặt , không có người qúa giàu , không có người quá nghèo .... Nhưng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã xô ngã lý thuyết đó . Con người ta đã lên đến mặt trăng . Luồng gió mới thổi vào , cuộc sống có phần thoải mái hơn . Những đứa con tôi đã lập gia đình . Cuộc sống đầy đủ tiện nghi hơn . Tôi sống vì ai ? Vì những đứa con máu thịt của mình .
Thời gian đó , đôi khi muốn tìm gặp bạn bè nhưng không có dịp . Năm 1982 , tôi đang đạp xe hàng qua bến xe Miền Đông , gặp Nguyễn Văn Ly , người cùng đi chiến dịch . Tôi dừng xe lại , kêu nó , anh em nói chuyện đôi ba phút , rồi đến nay không biết tin tức . Năm 1986, Phạm Trọng Kiến đi "lơn tơn" ngang trước nhà tôi . Tôi nhìn kỹ , rồi lên tiếng , anh em nói chuyện khoảng hai mươi, ba mươi phút . Đến nay chỉ nghe nó nói chuyện qua điện thoại mà thôi . Năm 1990, tôi gặp lại Trần Văn Hổ đôi ba lần rồi đến nay vẫn bật âm tin tức .
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp anh em ta xích lại gần nhau . Một cú click chuột, ta đã tìm đến nhau . Một cú phone , tôi đã nói chuyện với Thọ , Lạc... đôi ba phút . Thế là tôi đã toại nguyện . Bạn bè thân thiết hầu như tìm lại được.
Bây giờ tôi không trách gì ai . Chỉ trách tuổi trẻ của mình sinh nhằm ngôi sao xấu .Xin dĩ vãng đen tối , quá khứ đau buồn hãy ngủ yên . Ta hãy đào huyệt mộ chôn nó . Kỷ niệm sẽ mãi theo ta đi hết cuộc đời . Chỉ khi nào thân xác ta về với đất , tro cốt ta về với cát bụi , thì kỷ niệm sẽ tàn phai theo năm tháng. Vì còn ai để nhắc nữa .
Thư sau , tôi sẽ gửi đến các bạn bài cũng nói về một kỷ niệm đã đeo đuổi theo tôi quảng đường dài 38 năm
Sunday, December 5, 2010
BÀI VIẾT TIẾP VỀ QUÊ HƯƠNG BIÊN HOÀ
Hôm nay , mình xin viết tiếp bài về quê hương Biên Hoà , nhưng xin nói về vấn đề kinh tế , trong đó có làng nghề gốm mỹ nghệ truyền thống và gạch ngói . Mình có ý tường viết thêm phần này khi HT Phước 334 có nhắc về người anh ruột của bạn mình làm rể ở xứ Chợ Đồn và sống về nghề gốm sứ .
Sau 1975 , căn cứ quân sự Long Bình đặt dưới sự quân quản của bộ quốc phòng . Một nghề mới được hình thành , mua bán cũng như rà tìm phế liệu . Chỉ những người có thế lực và vai vế mới làm được việc này . Ngay cả những mảng bê tông lớn , dày hơn một tấc , rộng cả chục mét vuông cũng được cạy lên bán . Người dân nghèo thì sử dụng máy rà phế liệu tự chế , đôi khi phải hy sinh đến tánh mạng .
Đến thời kỳ mở cửa, sau 1986 , vùng đất này được giao về chính quyền tỉnh quản lý , hình thành 4 khu công nghiệp , trong đó có một khu công nghiệp liên doanh với Thái Lan . Hạ tầng kỹ thuật được xây dựng , các xí nghiệp được thuê 50 năm , tiền trả theo mét vuông . Tư bản nước ngoài đầu tư vốn , máy móc , công nghệ kỹ thuật của họ . Công nhân tại chỗ , những lao động nhập cư ở Bắc Trung Bộ vào , ở Tây Nam Bộ lên . Hàng hoá sản xuất được tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu . Lại có ưu đãi về thuế trong thời gian 3 hoậc 5 năm đầu . Các công ty nước ngoài có thế mạnh về vốn , các xì nghiệp quốc doanh lần lần cạnh tranh không nổi . Điển hình , từ năm 1985 đến 1995 , 3 nhà máy bột giặt quốc doanh : Viso , ở cư xá kiến thiết Thủ Đức , Lix , ở Linh Xuân gần trại heo , Net , ở khu công nghiệp Biên Hoà , đều sản xuất mặt hàng bột giặt lấy hiệu Viso , Con Ngổng . Hàng hoá sản xuất không đủ cung cấp cho thị trường trong Nam ngoài Bắc . Năm 1995 , công ty UNILIVER nhảy vào thị trường Việt Nam . Đầu tiên họ mua đứt nhà máy Viso Thủ Đức để độc quyến sản xuất bột giặt Viso . Sau này thêm Omo là mặt hàng chiến lược của họ . Net và Lix chỉ gia công sản phẫm cho UNILIVER . Một lần giảy chết . Sau đó nhà máy kem đánh răng Perlon , sau 1975 là quốc doanh sản xuất kem đánh răng hiệu P.S , đang có chổ đứng trên thị trường , được mua lại với giá 5 triệu USD . Nhà máy của Perlon đối diện chợ An Đông chỉ được phép sản xuất nước rửa chén và kem Hynos . Kem Hynos anh bảy chà và đen là thương hiệu có tiếng trước 1975, nhưng bây giờ nguyên liệu , chất lượng không bằng nên người tiêu dùng không chấp nhận . Ta tự đào lỗ chôn mình . Cái mặt bằng đó giờ thành trường tiểu học Quốc Tế . Nhà máy kem đánh răng của UNILIVER được xây dựng mới ở khu công nghiệp Củ Chi , sản xúât thêm thương hiệu Close up truyền thồng . 5 triệu USD để đổi lấy một thương hiệu . Từ ti vi , tủ lạnh , xe hơi , đồ tiêu dùng gia đình của các thương hiệu nổi tiếng , cùa Anh , Pháp , Mỹ , Nhật , Hàn .... đều có nhà máy lắp ráp và sản xuất ở Việt Nam .
Sự phát triển kinh tế thì đi đúng theo bài bản , từ việc vận dụng các qui luật kinh tế của thế giới để áp dụng vào Việt Nam . Nhưng có vươn tầm cỡ Hàn Quốc , Nhật Bản hay không là do cách quản lý và yếu tố con người .
Ở Biên Hoà còn có thế mạnh về mặt hàng gốm mỹ nghệ và vật liệu xây dựng như gạch ngói, đá , cát ....
Khi người Pháp định hình xong nền móng đô hộ ở Viêt Nam nói chung và Biên Hoà nói riêng , họ thành lập trường bá nghệ thực hành ở Biên Hoà , do một bà đầm Pháp làm hiệu trưởng . Họ đào tạo lớp thợ đầu tiên để sản xuất gốm nung . Sau này có thêm đúc đồng , điêu khắc . Ba tôi thuộc lớp thợ thế hệ thứ hai , từ khoảng 1940 đến về sau . Sau khi người Pháp rút lui, trường bá nghệ vẫn còn, do anh em thợ quản lý dưới hình thức hợp tác xã . Một số nghệ nhân ra lập công ty , tổ chức sản xuất riêng lẽ , hoặc hợp tác với tư bản nước ngoài . Ở Chợ đồn , có chú Ba Nam , Chú Hai Đáng , sản xuất với thương hiệu DONA nổi tiếng ở Mỹ và thị trường Châu Âu . Ở Tân Vạn có bác Bảy Vạn . Thời kỳ đó , mấy đại gia này chỉ uống Wisky , đi xế hộp hoặc xe Jeep, giao dịch với mấy quan lớn . Thấy thị trường gốm mỹ nghệ béo bở , quý mệnh phụ phu nhân ở Sài gòn cũng lên Biên Hoà hùn vốn , chiếm một mảnh đất béo bở ở Tam Hiệp để lập ra công ty CERAMIC , hoạt động chưa được bao lâu thì tan hàng , đứt bóng . Chức vụ đi đôi với quyền lợi .
Từ sau thời mở cửa , mặt hàng này có lợi nhuận cao , nhiều cơ sớ sản xuất dưới hình thức hợp tác xã ra đời . Sản phẩm thiếu chất lượng , sản xuất cẩu thả , công nghệ lạc hậu , các thị trường truyền thống bị mất dần . Lại có mặt hàng gốm đỏ , không dùng đất sét trắng , không tô màu , ở Vĩnh Long phát triển , người nước ngoài ưa chuộng hơn . Chính quyền sở tại bắt buột các cơ sở còn trụ được tập trung vào khu công nghiệp gốm sứ ở Tân Hạnh , nung sản phẩm bằng lò ga để tránh ô nhiễm môi trường .
Sau khi người Pháp rút lui , hoà bình được lập lại , các cơ sở gạch ngói phát triển thêm . Trước 1960, phương tiện sản xuất còn lạc hậu . Máy nổ để ép gạch chạy dầu , không có điện . Mỗi chủ lò gạch mua vài mẫu ruộng để lấy đất sản xuất . Đất sét được vận chuyển bằng xe bò , cách xa hàng cây số . Sau này những chổ lấy đất làm gạch thành ao nuôi cá . Sau 1960, các phương tiện cơ giới được nhập vào : xe tải ben , xe máy xúc , xe máy ủi ... Những công ty khai thác đất được thành lập , những đường dây cung cấp củi được hình thành . Ở Chợ Đồn , cung cấp đất có chú Tám Chấn , cung cấp củi có bà Bảy Lâm , Bảy Mén... Nhưng ông bà mình có câu "nhất phá sơn lâm , nhì đâm hà bá ", những người này phất lên một thời rồi cũng lụi tàn .
Khoảng năm 1970, một số tư bản người Hoa ở Biên Hoà lập ra nhà máy gạch ngói Đồng Nai , áp dụng công nghệ tiên tiến của Châu Âu . Lò nung theo kiểu Tunnel , đường hầm , gạch trước khi nung được hút chân không cho khô , nung đốt sản phẩm bằng dầu , có béc phun . Tất cả đều theo dây chuyền khép kín . Sản phẩm đúng qui cách , chắc , đẹp , được thị trường ưa chuộng , dù giá thành có đắt hơn . Sản phẩm còn được xuất khẩu .
Giai đoạn từ 1965 -1972 , các lò gạch ăn nên làm ra .Ở khu vực Tân Vạn , Chợ Đồn , Hoá An , chỉ Chợ Đồn có rạp hát Phước Chung . Các đoàn cải lương thường đến đây trình diễn . Chiều tối , xe tải của đoàn hát đánh trống , thổi kèn chạy xuống Tân Vạn để rước khán giả miễn phí . Rồi chạy ngược lên Hoá An , Tân Hạnh . Đoàn Thanh Hương , Văn Chung , của anh kép mùi Văn Chung và cô đào mập Thanh Hương đến tập tuồng và khai trương ở đây . Đoàn Trâm Vàng có cô đào trẻ Lệ Thuỷ, mới bước lên ánh đèn sân khấu , lúc đó chưa nổi tiếng , cũng thường đến đây trình diễn . Đa số khán giả là dân lao động. Các lò gạch là nơi ẩn thân của mấy anh chàng trốn quân dịch . Thỉnh thoảng mấy anh chàng lính cao bồi của tiểu đoàn 58 bảo vệ phi trường đóng ở Hoá An , thường đến xem hát cọp , gây sự với dân vệ . Ẩu đả xảy ra , thất thế , mấy anh chàng chạy về đơn vị , kêu thêm đồng đội, lấy súng bao vây trụ sở xã . Xã trưởng phải điện báo quân vụ thị trấn ở Biên Hoà , do trung tá Đầy , chồng cô đào Út Bạch Lan , nhờ sang giải quyết . Đó là thời kỳ hoàng kim của vùng đất phía nam Biên Hoà . Ở phía đông ,phía bắc Biên Hoà , là Hố Nai , Tam Hiệp , Tân Mai có thế mạnh về mua bán , nhất là hàng lậu , hàng PX .
Sau năm 1975, những lò gạch có chủ bỏ đi hoặc sợ bị đánh tư sản nên đem hiến tặng nhà nước . Tất cả dều bị quốc doanh . Nguyên vật liệu được cung cấp theo kiểu bao cấp . Sản phẩm được bán theo kiển xin cho . Sau 1985 những cơ sở đã ngừng hoạt động xin tái hoạt động lại dưới hình thức tư nhân . Các cơ sở quốc doanh bị thua lỗ , cụt vốn phải phá sản . Bù lại mặt bằng của họ được bán giá cao hoặc phân lô bán nền khi đất đai có giá . Một số lò gạch mini ra đời . Máy đùn gạch cho ra một cục . Lò nung khoảng vài chục ngàn viên , một tháng có 5-6 kỳ nung đốt lò . Một cơ sở có thể hoạt động hơn một năm là hoàn vốn . Nhu cầu tiêu thụ tăng cao . Người dân có tiền cần xây nhà . Các công trình phúc lợi , các xí nghiệp mới thành lập . Lại có phong trào xây trụ nọc cho cây tiêu , gạch cần nung cháy thêm nữa . Lò gạch mọc lên như nấm. Rồi đến giai đoạn bão hoà . Các nhà máy gạch Tunnel tiếp tục ra đời . Năm 2000, các lò gạch thủ công phải đóng cửa vì ô nhiễm môi trường . Họ sang Tân Ba , Tân Phước Khánh mua đất , xây dựng cơ sở mới . Nhưng cũng chỉ hoạt động được 10 năm . Cuối 2010, tỉnh Bình Dương lại đóng cửa các cơ sở này , chỉ cho các lò gạch Tunnel hoạt động . Quy luật của phát triển kinh tế.
Có thể nói , dưới nền đất của Biên Hoà , toàn bộ là đá xanh . Ở những vùng thấp , bóc lớp đất mặt lên khoảng 5m là hiện ra đá . Từ núi Châu Thới đến Bửu Long ,đá được khai thác triệt để . Núi Châu Thới , Bửu Long đã bị chặt phá một phần . Để bảo tồn chính quyền không cho khai thác nữa . Người ta tiếp tục khai thác các vùng phụ cận chân núi . Những mỏ đá sâu , bị ngập nước thành những hồ nhân tạo, như ở xã Đông Hoà, Dĩ An , trong khu vực đại học quốc gia có mấy hồ nước lớn .Trên máy bay các bạn sẽ nhìn thấy rõ . Trước 1975 , ở khu vực gần xa lộ, phía bên kia đồi 25 , nhà thầu xây dựng RMK của Mỹ đã thành lập khu vực nghiền đá to lớn để trộn nhựa trải đường . Bây giờ các mỏ đá lại tiếp tục được khai thác ở Nhơn Trạch, ở Tân Thành ,Phú Mỹ thuộc Bà Rịa . Lại có những mỏ mới ở Tân cang , Long Thành , Sóc Lu Trảng Bơm . Các xà lan hàng trăm tấn ở Miền Tây đều lên Đông Nam Bộ lấy đá cho các công trình xây dựng . Đá ở núi Sập , núi Sam có độ mềm hơn , non hơn . Món lợi nhuận khổng lồ vì chỉ cần khai thác , vận chuyển là có tiền . mặc cho môi trường bị xâm hại .
Cát ở khúc sông Đồng Nai , từ Cù Lao Thạnh Hội đến Cầu Mới Bửu Long cũng được khai thác triệt để . Sau từ lâm tặc là từ cát tặc. Cát ở sông Tiền , sông Hậu xấu hơn vì có lẫn bùn còn được xuất khẩu sang Singapore .
Chúng ta nằm trên những mỏ đá , mỏ cát . Nếu khai thác bừa bãi , không tính toán khoa học sẽ là hiểm hoạ cho thế hệ sau này . Nhưng không sao , ai chết mặc ai , tiền thầy bỏ túi .
Cùng bạn Phước 334 thân mến ,
Sáng nay , mình có đến thăm thím sáu Thuận . Thím sáu vẫn mạnh khoẻ , hôm nay chủ nhật nên nghỉ bán cơm . Cháu Vân ở phía bên chồng . Cháu Hải chắc đi công chuyện , nên chỉ có thím và mấy đứa cháu nội ở nhà . Thím có nói về chuyện Phước Long , mình nói bạn vừa đưa bài đó lên . Thím sáu và hai cháu Vân , Hải gởi lời thăm chú thím Mười và hai em . Chúc sức khoẻ gia đình . Thìm gởi lời mừng sinh nhật chú Mười vui vẻ
Vài lời cho bạn rõ , hẹn gặp năm sau ở Chợ Đồn .
Luận 324
ĐỖ CÔNG LUẬN
Saturday, December 4, 2010
Phước Long: Niềm Đau Chưa Dứt Jan 06,1975

PHƯỚC LONG :
Niềm đau chưa dứt!
(Bài trích đăng từ Đặc San GĐ81/BCND số 3 ngày 1 tháng 7 /2001)
"Chiến trường Phước Long có quá nhiều nguy hiểm so với chiến trường Bình Long, An Lộc năm 1972. Nhiệm vụ của chúng ta vào Phước Long là để giữ vững tỉnh lỵ này khỏi rơi vào tay Cộng quân. Chúng ta tới đó là để tử thủ và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta phải thi hành sứ mệnh này để không hổ danh người hùng 81 An Lộc với hai câu thơ đã đi vào huyền sử:
"An Lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân."
Đó là lời nhắn nhủ cuối cùng của Đại Tá Huấn trước khi xuất quân.
--------------------------------------------------------------------------------
Cuộc chiến đã qua hơn 26 năm, một phần tư thế kỷ. Giờ đây hồi tưởng lại, tất cả những chiến sĩ QLVNCH vẫn không quên được một niềm đau chưa dưt!
Những ngaỳ cuối năm 1974, LĐ 81/BCND có mặt tại chiến trường Nuí Bà Đen, Tây Ninh, hành quân để giải toả áp lực của Cộng quân trong vùng, vì trên đỉnh nuí có đài tiếp vận truyền tin của nhiều đơn vị. Những toán Thám sát BCD xâm nhập vào những hang động trên núi để thăm dò và đẩy lui địch ra khoỉ những công sự chiến đấu kiên cố mà không quân và pháo binh đã không tiêu diệt nổi.
Nhiệm vụ thám sát và tiêu diệt địch đang tiến triển tốt đẹp. Đêm 01/01/75, ở BCH/HQ tại căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh, trong khi mọi người đang làm việc, hoặc nghỉ ngơi dưỡng sức, bỗng có điện thoại khẩn cấp cho Đại tá Huấn, nhìn sắc mặt khẩn trương của vị Chỉ Huy Trưởng, chúng tôi đoán ngay là có chuyện gì rất quan trọng. Sau khi buông điện thoại,Đại tá tiến lại nơi các sĩ quan đang tề tựu và chậm rãi ra lệnh cho sĩ quan ban 3 : " ngày mai, bằng mọi giá phaỉ rút tất cả các toán đang ở trong núi về vùng an toàn, chúng ta sẽ tham dự một chiến trường mới". Mọi người đều tá hỏa vì việc phối trí gài sâu các toán Thám sát vào những hang động hiểm trở nằm sâu trong núi đã là một việc cực kỳ khó khăn, mà bây giờ lại phải khẩn cấp đem các toán về an toàn, tránh không đụng độ với địch quân lại càng khó hơn. Nhưng rốát cuộc, lệnh của Đại tá CHT cũng đã được hoàn bị một cách tốt đẹp, và cũng may đã không bị một tổn thất nào.
Chiều 02/01/1975, tất cả các toán Thám Sát BCD và Bộ Chỉ Huy được trực thăng vận bằng Chinook từ Tây Ninh về căn cứ HQ Suối Máu tại Biên Hòa. (chỉ để lại một Biệt Đội để giúp trấn thủ Tây Ninh). Sau khi được nghỉ ngơi khoảng một giờ, mọi người phải ra sân tập họp để làm lễ xuất quân đầu tiên của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật : Trung Tá Vũ Xuân Thông được bổ nhiệm chức Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, Chỉ Huy Phó là Thiếu Tá Nguyễn Sơn, riêng tôi là Trưởng Ban Quân Y Hành Quân. Sau khi Đại tá CHT Liên Đoàn 81 duyệt qua hàng quân và bắt tay từng người, chúng tôi vào phòng HQ để được ban 2 & 3 thuyết trình về tình hình tại chiến trường. Bản đồ Phước Long hiện ra, đây là chiến trường mới, thử thách mới của người chiến sĩ Biệt Cách Nhẩy Dù .
Thiếu tá Thọ (ban 3) thuyết trình về tình hình tại Phước Long, trên bản đồ chúng tôi thấy những dấu chấm màu đỏ của địch quân nhiều hơn những dấu chấm màu xanh của các đơn vị bạn. Phước Long đang bị bao vây! Nuí Bà Rá mất hẳn, Phước Long từng phút hấp hối đang trông chờ những người lính Biệt Cách nhẩy vào vòng chiến để tiếp cứu.
Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật gồm : một Biệt đội đặc huấn với khẩu 90 ly không giật, Biệt đội 1 và Biệt đội 4 (tất cả khoảng 300 chiến sĩ tinh nhuệ BCD). Nếu tình hình đòi hỏi thì sau 10 ngày, toàn bộ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẽ vào Phước Long để thực hiện một trận đánh ngoạn mục như tại An Lộc năm 1972.
Trở về Ban Quân Y, sau khi phân phối thuốc men cho các y tá trưởng Biệt Đội, tôi cảm thấy thật bình thản vì mọi việc đã sẵn sàng để sáng mai lên đường. Số tiền thưởng 10,000 cho ban quân y tôi giao lại cho anh em ra Biên Hòa thoải mái, riêng tôi tìm về thăm người anh, tại đây tôi thấy tờ Điện Tín phát hành cách đó vài ngày với tựa đề lớn nơi trang nhất : "Cộng quân đang bao vây tỉnh Phước Long, cách tỉnh 70 m. Tình hình Phước Long quá nguy ngập."

5 giờ sáng ngày 3/01/75, từng hàng xe GMC chở chúng tôi ra phi trường Long Bình. Cả BCH/HQ Biên Hòa tiễn đưa chúng tôi với hai ngón tay hình chữ V giơ cao chúc mừng chiến thắng. Nhưng phải đợi mãi tới 2 giờ chiều trực thăng trực thăng mới cất cánh trực chỉ Phước Long. Khoảng hơn một giờ sau, chúng tôi đã có mặt trên vùng trời Phước Long. Từ thân tàu, tôi nhìn thấy nhiều cụm khói trắng lỗ chỗ dưới đất, Cộng quân đang đổ mưa pháo vào Phước Long. Rồi bỗng nhiên không hiểu vì lý do gì, tất cả trực thăng đều quay đầu trở về, tôi đoán có lẽ vì phòng không của địch quá mạnh, nên không thể đổ quân được! Chúng tôi được đưa trở lại phi trường Long Bình để chờ đợi. Đêm đó, anh em 81 chúng tôi cố tìm sự thanh thản bên những ly cà phê và suy tưởng đến cuộc chiến tàn khốc trước mặt.
Sáng sớm hôm sau, ngày 4/01/75, từng đoàn trực thăng đáp xuống đậu tại phi trường, nhưng chờ hoài chẳng thấy lệnh lạc gì để bốc chúng tôi vào Phước Long. Mãi cho đến gần trưa, chúng tôi thấy một số sĩ quan cấp tướng, cấp tá đến noí chuyện cùng các phi công trực thăng, họ cố gắng thuyết phục phi hành đoàn thi hành lệnh đổ quân, mặc dù hỏa lực phòng không của địch tại vùng đổ quân rất mạnh.
Khoảng 11 giờ trưa, trực thăng cất cánh. Các chiến sĩ 81 BCND lên đường tiến vào tử địa Phước Long. Cuộc đổ quân được chia làm hai đợt : Đợt 1 do Tr/tá Thông chỉ huy gồm BCH và Biệt đội 4. Đợt 2 do Th/tá Nguyễn Sơn chỉ huy cùng với Biệt đội 1.
Cuộc đổ quân đợt đầu an toàn, chúng tôi được trực thăng vận về hướng Đông cầu Đak-Lung, bố trí đội hình và tiến vào tỉnh, Tr/tá Thông được BCH tỉnh đưa xe jeep ra đón, còn chúng tôi thận trọng tiến bước. Khi dừng chân tại đồn Cảnh Sát Dã Chiến, anh em Cảnh Sát rất vui mừng vì họ đã trông đợi đơn vị của "Người tình không chân dung" đã mấy hôm nay. Sự có mặt của anh em BCD khiến tinh thần của họ lên rất cao.
Tiếng trực thăng từ xa vọng tới, cuộc đổ quân đợt hai đang tiếp diễn, nhưng đã không được may mắn như đợt đầu. Th/tá Nguyễn Sơn và Biệt đội 1 được lãnh no pháo, c/u Lâm Ngọc Bảo bị thương nặng (Lâm Ngọc Bảo hiện ở Pháp). Máy truyền tin liên tục gọi QY đến. Pháo không ngừng nghỉ! Rồi bỗng nhiên ngưng bặt, rồi tiếng xích sắt ken két vang lên, tôi hỏi viên Tr/úy CSDC là có phải xe tăng không? Anh ta nói : "từ lúc cuộc chiến mở màn, chưa có xe tăng nào vào tỉnh". Tiếng xích sắt nghiến trên đường nghe càng lúc càng gần, anh em 81 tại đồn CSDC la lớn "Xe tăng tới". M72 dương lên để tác xạ, và 4 chiếc T54 lù lù xuất hiện. M72 thi nhau nổ, nhưng xe tăng chỉ khựng lại và rồi lại từ từ tiến tới (Cộng quân đã học được bài học ở An Lộc, nên chúng đã biến cải xe tăng với những bửng chắn đạn M72 dầy hơn), nòng đại bác hướng về phía chúng tôi khạc đạn. Mọi người phân tán, chạy xuống cầu Đak-Lung, dân chúng cũng ùn ùn chạy theo ! Đạn 57 trực xạ từ Núi Bà Rá bắn trên đầu, trên trời những chiếc F5 thả bom loạn xạ, rồi phòng không nổ đầy trời tạo nên những cụm bông trắng dị kỳ.
Cộng quân đã tung xe tăng vào chiến trường Phước Long đúng vào thời điểm mà LĐ 81/BCND tiến vào trận địa chắc không phải là một điều ngẫu nhiên. Sau đợt xe tăng lên công phá, địch lại pháo hàng loạt không ngừng nghỉ vào tỉnh lỵ nhỏ bé này, mọi phương tiện đều bị tê liệt như phi trường, pháo binh, và thiết vận xa. Tất cả đều nằm bất động dưới cơn mưa pháo của cộng quân.
Sau khi rút về hướng cầu Đak-Lung, chúng tôi bắt liên lạc lại được với BCH/CT, và bắt đầu tiến trở lại dinh tỉnh trưởng. Đoạn đường thật ngắn mà đầy rẫy những hiểm nguy! Chúng tôi phải chạy đua với đạn pháo của địch! Cuối cùng gặp lại được Tr/tá Thông và Đ/úy Thứ. Ban Quân Y được chỉ định cho một căn hầm chìm nằm kế dinh Tỉnh Trưởng để làm phòng Quân Y dã chiến. Anh em BCD bị thương khá nhiều ở đợt đổ quân thứ hai, và nhất là sau lần quần thảo với T54 . Thương binh được chuyển tới hầm Quân Y liên tục khiến chúng tôi làm việc không xuể.
Chiến trận mỗi lúc càng khốc liệt, chiều ngày hôm đó (4/01/75), 4 chiếc T54 và đặc công Cộng Sản lại mở cuộc tấn công vào dinh Tỉnh Trưởng. Anh em BCD quần thảo với địch thật anh dũng, một số đặc công CS từ xe tăng nhẩy xuống giao thông hào đã bị Tr/tá Thông thảy cho vài trái lựu đạn diệt gọn, một chiếc T54 bị bắn gẫy gọng, được 3 chiếc kia kéo đi khi rút lui. Trong trận này, anh em Đặc Huấn BCD bị thương nhiều! Hầm quân Y chật cả thương binh, chỉ khâu vết thương được xử dụng tối đa, dự trù được dùng cho 10 ngày, nhưng giờ phút này không còn lấy một sợi! Trong tình hình khẩn cấp, tôi ra lệnh cho Th/sĩ Dân, y tá trưởng, dùng dây điện thoại để thay chỉ khâu, miễn sao là cầm máu được vết thương, và sau đó dùng Penicilline để tránh nhiễm trùng.

Vừa có mặt tại Phước Long chưa được trọn ngày mà anh em BCD đã phải quần thảo với xe tăng và đặc công của địch tới hai lần. M72 bắn đã gần hết, thuốc men của Quân Y chẳng còn là bao so với nhu cầu! Xin tiếp viện, nhưng phải chờ lệnh!
Màn đêm vừa buông xuống, Đ/úy Thứ xuống hầm Quân Y nói nhỏ với tôi: "Tr/tá Thông ra lệnh sửa soạn rút quân, ban Quân Y và Biệt Đội Đặc Huấn rút theo một hướng, còn Biệt Đội 1 và 4 rút theo hướng khác". Tôi liền tập họp y tá và các thương binh, ai đi được thì ráng đi, còn ai bị thương nặng thì sẽ được cáng theo. Dân chúng ở trong hầm thấy tôi tập họp anh em 81, họ nghi là chúng tôi sẽ bỏ rơi họ, nên khóc lóc, năn nỉ để cho họ được cùng đi. Tôi phải cố trấn an mọi người, rồi cũng êm. Mọi người hồi hộp chờ động tĩnh, và lệnh triệt thoái, nhưng rồi đêm cũng chậm chạp trôi qua một cách yên tĩnh đáng ngờ vực.
5 giờ sáng ngày 5/01/75, mặt trời chưa kịp ló dạng thì đã ầm ầm, từng loạt pháo rót vào khu tòa Tỉnh Trưởng, pháo liên tục làm không ai ngóc đầu lên nổi, cơn mưa pháo không ngừng nghỉ suốt ngày cho tới tối, nhưng không thấy tăng và bộ binh của địch tấn công. Rồi màn đêm lại buông xuống một cách nặng nề, hầm Quân Y được tổ chức canh phòng cẩn mật để đề phòng sự đột kích của đặc công địch, chỉ cần vài trái lựu đạn thảy vào là chết cả đám! Tôi thường xuyên liên lạc với BCH/CT để theo dõi tình hình và lệnh rút quân, nhưng Đ/úy Thứ cho biết là vẫn chưa có gì thay đổi. Thêm một đêm thức trắng canh phòng, căn hầm nhỏ hẹp sực nức mùi tử khí, xác những chiến binh BCD đã hy sinh nằm bất động lạnh lùng. (đa số chết vì bị thương trong trận chiến với xe tăng của địch, bị mất quá nhiều máu).

Phước Long hấp hối, đang chờ tăng viện!
Ngày 6/01/75, tờ mờ sáng, Cộng quân đã nã hằng loạt pháo vào khu tỉnh lỵ, tôi nghe rõ tiếng de’part của đạn pháo, nên chắc là Cộng quân đã đến rất gần. Mưa pháo rơi liên tục khoảng vài tiếng đồng hồ, rồi tự nhiên ngưng bặt, rồi tiếng ken két của xích sắt xe tăng tiến lên. Mọi người ghìm chặt tay súng ở vị thế chiến đấu, chợt Đ/úy Thứ chạy vào hầm Quân Y thông báo là có lệnh rút quân. Một cảnh hỗn loạn diễn ra tại hầm Quân Y, vì dân chúng gào khóc, níu kéo đòi đi theo chúng tôi, thêm vào đó, một số anh em ở các đơn vị khác không có cấp chỉ huy chạy loạn xạ làm mồi cho đạn pháo đang nổ liên hồi chung quanh tòa Tỉnh, lớp chết, lớp bị thương trước cửa hầm Quân Y, thật là bi đát!
Sau khi rút ra khỏi dinh Tỉnh Trưởng, Tr/tá Thông cố gắng tập họp anh em 81 lại, mong mở trận phản công chiếm lại tòa Tỉnh Trưởng, nhưng thất bại! Trên trời, F5 vần vũ dội bom, chung quanh dinh Tỉnh Trưởng đã thấy xuất hiện nhiều bóng Cộng quân. Thế là hết! Phước Long sau bao ngày hấp hối chờ đợi viện binh, đã lịm chết lúc 9 giờ sáng ngày 6/01/75.
Phước Long thất thủ!
Rời khỏi dinh Tỉnh Trưởng, Tr/tá Thông hướng dẫn anh em 81 rút lui theo khe thông thủy tiến đến bờ sông. Nhiều anh em của các đơn vị bạn cũng chạy theo với hy vọng rút lui được an toàn. Máu nhuộm đỏ cả khúc sông! Bên này quân ta cố phá vòng vây, bên kia Cộng quân xả súng để ngăn chặn đường rút lui. Hạ sĩ Đình, y tá, nhiều lần giúp tôi qua sông nhưng không được. Tôi vẫn nhớ lời Đình nói với tôi: " Thôi ông thầy ở lại tìm đường khác mà rút, còn em phải ráng qua sông để theo kịp Trung tá. Nếu thoát được, em sẽ về báo tin với gia đình của ông thầy"
Màn đêm buông xuống thật nhanh, nhìn lại phía sau, Phước Long là một biển lửa, không quân đã dội bom hủy diệt tỉnh lỵ cùng với Cộng quân. Đêm đó, 6/01/75, tôi và một số anh em 81 bị bắt!
Cuộc đời tù binh bắt đầu!
Sau nhiều ngày di chuyển bằng đường bộ, Cộng quân đưa đoàn tù binh tới trại giam tại Lộc Ninh (tỉnh lỵ đã bị cộng sản chiếm năm 1972). Trại tù là nơi giam giữ các sĩ quan thuộc đủ mọi quân binh chủng, từ phó tỉnh trưởng, chánh văn phòng, tham mưu trưởng của tiểu khu Phước Long, đến chi khu trưởng Đồng Xoài, Bố Đức. Ngoài ra còn có sĩ quan BCH tiểu đoàn 1/7 (SĐ5BB), Trinh sát 18 (SĐ18BB), Trinh sát 25 (SĐ25BB). Riêng LĐ81BCD gồm có tôi, Ch/úy Cấp (truyền tin), Tr/úy Đức (ban 3), Th/úy Lịch, Th/úy Long, Ch/úy Bảo (BĐ1), Ch/úy Linh (BĐ4).
Đối với tù binh bị bắt tại Phước Long, cộng quân đã khai thác anh em BCD tối đa. Riêng tôi, qua các lần bị thẩm vấn, tôi không khai gì cả vì không muốn làm thiệt hại đến đơn vị. Tôi chỉ nhất mực nói là một sĩ quan Quân Y, được cục Quân Y tăng phái cho LĐ 81, tôi không biết gì về đặc lệnh truyền tin, cơ cấu và sơ đồ tổ chức của đơn vị Biệt Cách Dù. Có lẽ vì biết là không khai thác được gì, nên ngày 18/3/75 Cộng sản đã chuyển tôi, Ch/úy Bảo (bị thương nặng), Ch/úy Linh ra Bắc giam giữ. Còn Ch/úy Cấp, Th/úy Lịch, Tr/úy Đức, Th/úy Long bị giữ lại ở miền Nam để tiếp tục bị khai thác.
Đoạn đường dài áp tải tù binh Phước Long từ Nam ra Bắc qua ngõ đường mòn HCM thật đầy gian nan khốn cực! Ban ngày tạm dừng chân trong rừng sâu, ban đêm được chở bằng xe Molotova xuyên qua các trục lộ đường mòn. Vì sợ chúng tôi bỏ trốn, nên cộng quân đã xiềng nơi cổ chân mỗi người bằng một dây xích lớn, và cứ 4 người lại bị khóa dính chùm bằng một ổ khóa.
Đường mòn HCM xuyên qua Kampuchea và Lào, con đường mòn nhỏ hẹp giữa rừng già trùng trùng, điệp điệp phủ ngập bụi mù, từng đoàn quân Cộng sản Bắc Việt lũ lượt tiến vào Nam cùng với cơ giới nặng, xe tăng, trọng pháo và hỏa tiễn SAM. Đoàn tù binh bị giải qua địa phận Khe Sanh, rẽ vào thị xã Đông Hà (Quảng Trị), nơi mà Cộng quân đã chiếm giữ từ năm 1972. Mùa Xuân nơi vùng địa đầu giới tuyến trời giá rét mưa phùn. Trong thời gian chờ qua cầu Hiền Lương (sông Bến Hải), các bà mẹ già Quảng Trị mời chúng tôi mua bánh! Tôi thầm nghĩ, Quảng Trị đã rơi vào tay giặc từ 3 năm nay rồi, mà sao mẹ già Việt Nam vẫn còn nghèo khổ cơ cực, run rẩy trong chiếc áo tơi đi bán dạo từng miếng bánh như vậy?! Mẹ hãy thông cảm cho chúng con, thân tù làm sao có tiền mua bánh giúp mẹ! Mẹ hãy nhìn kỹ dưới chân chúng con để thấy những xiềng xích của một đời tù binh tủi nhục.
Xe bắt đầu tiến qua cầu Hiền lương, nhìn bức ảnh lớn của HCM được treo trên cầu đang đưa tay vẫy chào với hàng chữ lớn "Không gì quí hơn độc lập Tự Do". Thế là hết! Tự Do đã mất! Người chiến binh QLVNCH sa cơ thất thế đang bước vào chốn ngục tù đắng cay của một chuỗi ngày dài tăm tối!
Qua khỏi vĩ tuyến 17 là địa phận Vĩnh Linh (Đồng Hới), ổ khoá lớn xiềng chung 4 người được Cộng sản tháo ra để bắt chúng tôi phải đi bộ. Với xiềng xích nơi chân, chúng tôi được giong đi dưới làn mưa đá của dân chúng và trẻ nít đứng dọc bên đường! Đây là một đòn phủ đầu thâm độc đã được dàn cảnh cốt để làm nhục những chiến sĩ quốc gia. Con đường dài tủi nhục dẫn đến Vinh (Nghệ An), chúng tôi được xe lửa chở đến ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Trong khi chờ đợi di chuyển tới nơi lưu đầy rừng thiêng nước độc Yên Bái, chúng tôi lại phải lãnh chịu thêm một màn sỉ nhục của người dân miền Bắc bằng gậy gộc và những màn đấm đá hận thù!
Chiều tối ngày 8/4/75, chúng tôi đến nơi lưu đầy, một trại giam ở sâu trong rừng cách thị xã Yên Bái khoảng 20km. Xiềng xích dính liền nơi chân trong suốt đoạn đường từ Nam ra Bắc dài hơn 3 tuần lễ được Cộng sản tháo ra. Tù binh bị bắt tại Phước Long được nhốt chung với các anh em chiến sĩ bị bắt ở Hạ Lào trong cuộc hành quân 719. Tại đây tôi gặp Đ/tá Thọ (Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù) và nhiều anh em khác.
30 tháng 4 năm 1975, miền Nam thất thủ, QLVNCH bị bức tử một cách tức tưởi! Nhân dân miền Nam Việt Nam nằm trong sự thống trị bạo tàn của cộng sản, riêng các chiến sĩ oai hùng ngày xưa phải gánh chịu những tăm tối ngục tù! Rồi những năm tháng dài tăm tối qua đi, những người tù "cải tạo" được lần lượt thả về, và đưa đi định cư tại Hoa Kỳ hoặc đến các nước Tự Do để xây dựng lại cuộc sống.
Hôm nay, hít thở không khí tự do nơi đất nước tạm dung, hồi tưởng lại quá khứ, chiến trường Phước Long, kiếp lưu đầy tù tội nơi lam sơn chướng khí Việt Bắc, những ngày đói khát không có lấy một chén cơm cho đủ no để chống với cái lạnh cắt da, cô đơn không người thăm hỏi, và biết bao muôn vàn những cay đắng tủi hờn trút đổ thù hận trên người chiến sĩ Quốc Gia sa cơ thất thế. 26 năm đã trôi qua từ ngày Phước Long, tỉnh lỵ đầu tiên của miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản trong một chuỗi ngày khắc nghiệt của tháng Tư năm 1975 khi người chiến sĩ QLVNCH đã phải đơn độc chiến đấu trong một hoàn cảnh khó khăn khi phải đương đầu với một guồng máy chiến tranh của thế giới Cộng Sản, và khi các bạn Đồng Minh đã quay lưng trở cờ! Ngày 6/01/75, Phước Long thất thủ khởi đầu một trang sử đau thương cho những người yêu chuộng Tự Do, cho nhân dân Việt Nam!
Phước Long mãi mãi vẫn là một niềm đau chưa dứt trong tim tôi nói riêng, và trong lòng những chiến binh kiêu hùng của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù.
January 2001.
Đàm hữu Phước
Sĩ quan Quân Y
BCH/CT, LĐ81BCND
Thursday, December 2, 2010
BÀI VIẾT VỀ QUÊ HƯƠNG BIÊN HOÀ
Theo dòng lịch sử , hơn 300 năm trước , 1698 , lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược vùng đất mới khai phá , lập ra dinh Trấn Biên . Khoảng năm 1701 , ông thống lĩnh binh sĩ đi dẹp loạn ManDi ở vùng Phước Long , Mô Xoài , ở thượng nguồn Sông Bé . Trên một gò đất cao ở Cù Lao Phố , một ngày trời quang mây tạnh , ông làm lễ xuất quân . Bỗng có một bà đồng bóng , gọi là cô Bóng Hiên , lên đồng ngăn cản . "đừng đi sẽ nguy hiểm đến tánh mạng " . Vì trung quân ái quốc , ông tuốt gươm chém cô bóng và ra lệnh tiến binh theo dòng Đồng Nai về hướng thượng nguồn . Đến nơi , bị trúng tên độc của kẻ thù phải vong mạng . Thi hài ông được đưa về quàn tại gò đất nơi làm lễ xuất binh , trước khi được đưa về an táng ở quê hương Quảng Bình . Nơi gò đất cao đó , sau này dân làng lập ra đình Bình Kính để thờ tự ông với ngôi mộ gió . Hướng bên kia sông , gần Thanh Lương Cổ Tự , dân làng Mỹ Khánh lập ra ngôi miếu thờ cô bóng Hiên . Mấy chục năm sau , hai bại tướng nhà Minh , Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch không thần phục nhà Thanh , xin Chúa Nguyễn vào lánh nạn ở vùng đất Biên Hoà , lập ra nông nại đại phố , một thương điếm nổi danh , trên bến dưới thuyền , trước khi phải nhường ngôi cho Sài Gòn Bến Nghé . Để ghi nhớ công lao của đức ông , dân chúng lập ra ngôi đình để thờ tự , gọi là đình Tân Lân , hướng ra dòng Đồng Nai hiền hoà . Hàng năm , vào ngày 24-10 âm lịch , dân chúng làm lễ kỳ yên để nhớ tiền nhân
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam , cũng theo sông Đồng Nai tiến đánh Biên Hoà . Danh tướng Nguyễn Tri Phương vâng lệnh vua Tự Đức về lập đồn luỹ để chống giữ vùng đất Biên Hoà . Nơi tiếp giáp rạch Thủ Huồng , địa chủ Võ Thủ Hoằng với truyền thuyết về Nhà Bè , và sông Đồng Nai , có bãi đá ngầm . Theo các bô lão , đó là kỳ công của tướng Nguyễn Tri Phương cho ghe đổ đá để ngăn tàu giặc Pháp , vì ở giữa dòng sông đã có bãi đá hàn . Ở làng Mỹ Khánh cổ kính còn có bà Nguyễn Thị Tồn , vợ hiền của thi nhân Bùi Hữu Nghĩa , dùng ghe bầu vượt biển ra kinh thành , đánh trống tam toà , kêu oan cho chồng và được Từ Dụ Hoàng Thái Hậu phong tặng bốn chữ LIỆT PHỤ KHẢ GIA . Bên Cù Lao Phố , còn có Đại Giác Cổ Tự , Hoàng Ân Cổ Tự . Lúc vua Gia Long và hoàng gia bôn tẩu đã lánh nạn nơi này . Sau khi lên ngôi báu , vua đầu triều Nguyễn đã ban tặng bức trướng để ghi nhớ công đức . Núi Châu Thới , còn có tên là Cố Phi San , do độc trại chữ coffee ,vì người Pháp đã có trồng thữ nghiệm cây càphê trên đó . Tương truyền , vùng đất từ đồi Dù , chùa Hội Sơn , đến đồi bác sĩ Tín , làng Cao Thái qua Tam Bản Kiều (cầu bắc bằng ba tấm ván) , vòng sau núi Châu Thới , đó là chiến trường nơi giao tranh giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Triều . Về sau , có những đêm khuya , người dân nghe tiếng ngựa hí quân reo . Nơi đó gần những bãi tập của trường bộ binh Thủ Đức Khi thực dân Pháp chiếm giữ Biên Hoà, đã lập ra doanh trại để binh lính trấn giữ gọi là thành Sơn Đá (Soldat) . Vết tích còn lại chỉ là một mảng tường nằm gần địa danh nổi tiếng Ngã Ba Thành - Dốc Sỏi . Gần đó có Hưng Linh Tự , dân gian gọi là chùa Cô Hồn , nơi bí mật thờ tự những anh linh nghĩa sĩ bị người Pháp giết hại vì đã chống lại "Đại mẫu quốc Pháp". Ngược lại , cách đó không đầy một cây số , hướng mặt trời mọc , ngưới Pháp lại dựng lên một nơi là đài kỷ niệm , để tưởng nệm những người Việt Nam đi lính cho pháp và hi sinh ở mẫu quốc Pháp trong thế chiến thứ nhất .
Tôi sinh năm 1951 . Khi chưa tròn 1 tuổi , năm 1952 xảy ra trận bão lụt năm thìn . Mẹ tôi kể lại , năm đó nước lũ ngập hết chợ Biên Hoà , đến tận trường tiểu học Nguyễn Du . Hướng Chợ Đồn Tân Vạn , chỉ có từ Ngã Tư Chợ Đồn kéo dài đến dốc Chú Hoả , là vùng đất cao , nước không ngập tới , người dân đến đó để lánh nạn . Hướng cầu Ghành , những bụi tre già của rừng Tân Uyên , Vĩnh Cửu bị lũ cuốn trôi , chảy cuồn cuộn qua bãi đá hàn . Trận lũ lịch sử đã qua gần 60 năm .
Năm 1955 , bà nội tôi mất . Ngày đưa tang , tôi mặc đồ tang trắng bằng vải mùng , ngồi trên xe nhà Vàng , vì tôi là đích tôn . Ba tôi kể lại . Hồi đó nhà nội nghèo , để đưa tiễn nội về quê mẹ ở xã Tân Hạnh , ba tôi và các cô chú chỉ đặt xe nhà Vàng hạng ba của trại hòm Mai Phùng Xuân . Khi đó , có một ông nhà giàu ở gần đó cũng cần đưa tang về xã Tân Ba Tân Uyên , sau đám của nội tôi , bằng xe hạng nhất . Ông chủ trại hòm nói : Để tiện đường đi , tôi sẽ cho bà đi xe hạng nhất nhưng chỉ tính tiền hạng ba .
Ba tôi nói , ai cũng có phần số .
Năm 1957 , tôi bắt đầu vào học lớp 1 . Năm năm tiểu học , đó cũng là khoảng thời gian thanh bình của đất nước . Năm 1958 , xã tôi cho di dời ngôi chợ cũ về ngay chỗ hiện tại , gẩn ngã tư Chợ Đồn , gần trụ sở xã . Chợ được xây dựng trên nền đồn của lính đạo Cao Đài ở địa phương . Có lẽ vậy mới thành danh Chợ Đồn . Lúc đó hè năm lớp 1 , chợ đang xây dựng . Ham chơi , tôi chạy qua chợ để nô đùa với lũ bạn . Bị mẹ la rầy , sợ quá , tôi chạy trốn lên trường học . Một lúc sau nhìn về hướng nhà , hướng chợ , sao thấy người ta bu đông nghẹt quá . Tôi chạy về , mới hiểu . Em gái kế tôi , 4 tuổi , thấy mẹ qua chợ , chạy theo sau bị xe tải quẹt ngã cán chết . Cả gia đình , ba má , các chị kêu la thảm thiết . Nỗi buồn thứ hai . Năm năm học tiểu học trường làng rồi cũng trôi qua . Bạn bè tôi người còn người mất , đã lên chức ông chức bà . Từ ngôi trường đó 4 đứa con tôi tiếp tục theo học . Sang năm , đứa cháu ngoại đầu lòng cũng sẽ học ở đó . Nhưng ở một ngôi trường mới hơn , khuôn viên rộng rãi hơn , cao 3 tầng . Phía sau trường là ngôi nhà nơi sinh ra anh Trần Văn Ơn , người học sinh Petrus-Ký, bị bắn chết ngày 9-1-1950 sau một cuộc biểu tình . Ngôi trường mang tên trường tiểu học Trần Văn Ơn .
Năm 1963 , tôi vào đệ thất Ngô Quyền . Đó cũng là thời kỳ đen tối của đất nước . Những trò đùa chính trị , đàn áp biểu tình , đàn áp phật giáo xảy ra . Chuyện công tội hãy để cho lịch sử phán xét , tôi chỉ muốn nhắc đến chuyện buôn thần bán thánh . Lúc đó người ta đồn rằng , nước giếng trên núi Bửu Long là nước thánh , trị được bá bệnh . Người ta đua nhau vét cả nước cặn , nước bùn . Nhưng nuớc hồ Long Ẩn thì không thể múc cạn vì đó là dấu tích của sự khai thác đá , làng nghề truyền thống đập đá và điêu khắc đá ở Bửu Long . Những tấm ảnh phật bà hiện ra , hình các nhà sư tự thiêu , trái tim bất diệt ..... được in ra, lồng ghép để bán . May là hồi đó chưa có photoshop . Ngay ở xã tôi , trên võ ca của miếu bà , người ta cũng bày chuyện đó . Có mấy ông bà bị căm điếc cũng được cho uống nước thánh để nói được . Vì chuyện tò mò của thời trẻ con , mấy ngày đêm tôi cũng bỏ ăn để theo dõi sự tình .
Rồi người Mỹ chen chân vào Việt Nam , đời sống xã hội bắt đầu thay đổi . Cầu Đồng Nai được xây dựng . Xa lộ không đèn được khánh thành . Một buổi chiều tà mát mẻ , ba mẹ tôi thuê chiếc xe lam 3 bánh để chở cả gia đình ra ngắm chiếc cầu bê tông hoành tráng , cái xa lộ thẳng tắp nhiều làn xe .
Căn cứ quân sự Long Bình rộng mấy chục cây số vuông được hình thành , chạy dài từ ngã ba Vũng Tàu đến ấp Ngũ Phúc Hố Nai . Con đường từ ngã tư Tam Hiệp đến ngã ba Phước Tân bị đóng lại , thay vào đó là con đường hiện hữu . Địa danh ngã ba Vũng Tàu xuất hiện từ đó . Những vườn cây cao su bị chặt phá , những hàng rào kẽm gai được mọc lên . Những con đường ngang dọc phẳng phiu , xe jeep quân sự ngày đêm tuần tra . Bên kia xa lộ , tiếp giáp sông Đồng Nai , khu kỹ nghệ Biên Hoà được ra đời . Những xí nghiệp do tư bản nước ngoài, nước trong đầu tư , tên gọi nửa tây nửa ta bắt đầu được điểm danh . COGIDO , công ty giấy Đồng Nai . COGIVINA , công ty giấy Việt Nam . VIKYNO , Việt Nam kỹ nghệ nông cơ . BOMICO , bột mì công ty .... Trung tâm Biên Hoà bắt đầu náo nhiệt . Những khu đèn đỏ , đèn màu đã xuất hiện . Những từ OKê , Snack Bar có chỗ đứng trong lòng xã hội . Từ me Tây bị đi vào quên lãng để thay vào từ me Mỹ . Những điếu Salem , Pall Mall bắt đầu bập bẹ trên môi những em bé đánh giầy , trong khói thuốc xoe tròn . Tôi vẫn hồn nhiên đến trường trên những chiếc xe lam 3 bánh , ngày hai lượt qua cầu Ghềnh , càu Rạch Cát . Một ngày đẹp trời , tỉnh trưởng huy động tất cả xe đò Liên Hiệp để chở lũ học sinh chúng tôi đến Dĩ An để đón ngài ngoại trưởng Đinh - Rớt , vẫy cờ chào đón lữ đoàn bồ câu trắng công binh kiến tạo ĐẠI HÀN DÂN QUỐC . Rừng Cấm , rừng Cò Mi bị san ủi để xây dựng những con đường chiến lược . Một ngày cuối tháng 10-64 , Biên Hoà bừng tỉnh bởi những loạt đạn pháo kích sân bay . Lời cảnh báo của thần chiến tranh . Xã vùng ven của tôi lại có những đêm không ngũ vì lệnh khám xét nhà , bắt quân dịch . Giữa năm 1967 , tôi được cấp giấy tốt nghiệp THĐ1 cấp để bước vào 3 năm đệ nhị cấp . Cái tuổi bắt đầu biết bóp cò súng (hiểu nghĩa nào cũng được).
Cầu Ghềnh , cầu Rạch Cát bắt đầu bị kẹt xe liên tục . Ngày hai buổi sáng chiều , trên những chiếc xe hai bánh Honda , Suzuki , lam-brết-tit trắng xám , những anh chàng lính không quân , Pilốt ngày hai lượt đi về . Cái chợ quê ở xã tôi nhộn nhịp hẳn lên . Người ta họp chợ ở cả ngoài đường , từ ngã tư Chợ Đồn đến Chợ Đồn Cũ . Mì Samen Nhật , cá hộp Nhật , bột giặt .... đầy đường . Mặt trái của chiến tranh . Viện trợ Mỹ được đổi bằng hàng hoá Nhật , giúp anh chàng lùn vực dậy sau hai quả bom .
Trái tim tôi bắt đầu biết rung động . Mỗi sáng , trưa tôi đều đi học sớm , đến bến xe để đợi em . Em từ con dốc bước lên, tà áo trắng tung bay , cặp táp đen che ngực . Trái tim đập nhanh hơn . Em lên xe rồi , tôi mới lên theo , ngồi trước kế bác tài . Ba năm tình câm lặng . Một ngày tôi trao thơ cho em , em nhận nhưng không hồi đáp . Sau này tôi hiểu ra , em đã có người khác , học trên hai lớp . Kết quả của sự mõi mòn chờ đợi . Bài học đầu đời tôi học được ở tình trường .
Đầu năm 1968 , chiến tranh bước sang bước ngoặt mới . Chiến tranh về thành phố . Cụm từ TẾT MẬU THÂN còn nhức nhối trong tim của người Việt Nam máu đỏ da vàng . Chúng tôi được ăn cái tết dài nhất , nghĩ học hơn 1 tháng , rồi sau đó đi làm công tác xã hội ở Đồng Lách , Hốc Bà Thức ....
Sáng mùng một Tết súng nổ bốn phương
Người dân ngơ ngác chạy vội ra đường
Giặc đang tìm đường tràn vào thành phố
Đám dân nghèo lần nữa chịu tai ương
Nổ ở Biên Hùng , nổ ở nhà ga
Liên thanh giòn rã lẫn tiếng A-ka
Người dân di cư thêm lần di cư nữa
Nước sông Đồng cuồn cuộn phong ba
Người dắt dìu nhau đi tìm sinh lộ
Đồng Lách điêu tàn trăng trắng màu tang
Suối săn máu đỏ vươn mùi tử khí
Hố Nai , Tam Hiêp nhà cháy hàng hàng ......
Bọn học trò nam chúng tôi lại phải đi học quân sự ở TTHL / ĐPQ ở Bửu Long . Lần đầu tiên bàn thay thư sinh biết cầm súng . Tay nào cầm viết , tay nào cầm súng , để rồi sau này .... cầm cuốc .
Tay đan nước mắt , ta đào mộ ta
Câu thơ này tôi viết khi bị tình phụ , nhưng khi vào tù vẫn có ý nghĩa .
Bạn bè lần lượt chia tay vào quân đội . Thằng Tốt , thằng Hùng đi hải quân . Thằng Nghiệp , thằng Phát đi địa phương quân . Thằng Hạnh đi biệt động quân .
Thằng Thiện đi không quân ..... Rồi tin dữ lại về . Thằng Hạnh nhỏ con , học giỏi , chết khi vượt dây tử thần ở Dục Mỹ . Tội nghiệp mày quá Hạnh ơi ! Mày nhỏ con ốm yếu mà dám đi biệt động quân . Viết đến đây , những giọt nước mắt lại lăn dài trên má . Mình phải đi rửa mặt .
Chương trình học lại bị rút ngắn . Mỗi chiều thứ bảy bạn bè chúng tôi đi xã strees bằng cách đến xe hủ tiếu của Giang Hưng để ăn cháo tiều , mì xào giòn , rồi đi nghe nhạc ở các tụ điểm . Nhạc sống có ở các quán cà phê đối diện trường Ngô Quyến . Nhạc công là mấy anh chàng văn nghệ sĩ quân đội đi làm thêm kiếm tiến . Từ giàn máy Akai của cà phê Tuyệt , đối diện rạp Khánh Hưng , bọn chúng tôi thả hồn nghe những bản tình ca của Phạm Duy , Trịnh Công Sơn . Xa xa , ở những quán bar đối diện bệnh viện tỉnh, ở khu vực Ngã Ba Thành Dốc Sỏi , cổng hai không quân , những em má đỏ môi hồng , những giàn đèn xanh đỏ mờ ảo , những chàng mũi lỏ mắt xanh dập dìu theo tiếng nhạc . Thành phố đợi giờ giới nghiêm . Những người con gái Việt Nam rời bỏ ruộng đồng , xa lánh chiến tranh để về thành phố làm những con thiêu thân .
Những chiều tan học , từ dốc Huỳnh Của đến ngã năm Biên Hùng , những tà áo trắng tung bay theo chiều gió lộng . Trong tôi, màu trắng là trắng cả ước mơ, tương lai là con số không to tướng . Phải đậu tú tài 1 , tú tài 2 . Từ đó đã sản sinh một nhà thơ . Nguyễn Tất Nhiên , tên tộc Nguyễn Hoàng Hải , bạn bè gọi là Hải khùng , học sau tôi một lớp . Những bài thơ nói về mối tình si với người con gái tên Duyên học cùng trường , chung xóm . Đến khi nhà thơ được Du Tử Lê giới thiệu đến nhạc sĩ Phạm Duy , những bài thơ của chàng được phổ nhạc , công chúng mới biết đến . Đêm đại đội 32 sinh hoạt ở sân đại đội , khi Hồ Văn Tiên hát lên bài THÀ NHƯ GIỌT MƯA , bọn mình cảm thấy xúc động quá , tuyệt vời quá . Cuộc đời nhà thơ rồi cũng kết cuộc đau thương nơi xứ người .
Rồi mùa hè đỏ lửa , tôi phải vào Thủ Đức . Hơn một năm gian khổ ở chiến trường Vĩnh Bình . Năm tháng gay go ở gió biển Vũng Tàu . Tôi lại về huấn khu Thủ Đức để học HCTC . Học ngành thì thoải mái hơn . Xe máy được đem vào doanh trại . Buổi chiều chia ca gác cho lính lác xong , mình có quyền dzọt về nhà . Mười cây số đường xa lộ . Những ngày cuối tháng tư , tôi lại dzọt về nhà thường xuyên hơn vì mới cưới vợ .
Khoảng 20-4-1975 cậu tôi ở Long Thành về dự đám cưới , đã nói nhỏ với ba má tôi :
- VC về ở đồn điền Bình Sơn nhiều lắm , có cả xe tăng pháo lớn . Sắp có đánh lớn . Em đem má , bà ngoại tôi , và mấy đứa nhỏ về ở với anh chị .
Chiều 26-4 tôi từ Thủ đức về nhà, gần đến ngã ba Tân Vạn , súng nổ rền vang ở hướng Bến Gỗ , cầu Đồng Nai , trực thăng vần vũ trên bầu trời . Ngày chủ nhật 27-4 nhà ba má tôi bắt đầu đào hầm trú ẩn . Đêm đó đặc công VC từ Hóc Ông Che , men theo đường rầy xe lửa đánh chiếm cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát . Họ muốn các cây cầu về Sài Gòn phải được nguyên vẹn . Người dân xã tôi lần đầu và cũng là lần cuối cùng biết đến chiến tranh . Súng nổ rền vang , mấy anh nhân dân tự vệ quăng súng chạy về trụ sở xã . Sáng hôm sau , lính từ Biên Hoà , tiểu đoàn dù từ xa lộ tiến vào hành quân giải toả . Từng ổ đề kháng bị tiêu diệt . Chiến xa M41 từ Tân Uyên chạy về , đám tàn binh sư đoàn 18 từ xa lộ kéo về tập họp ở ngã tư Chợ Đồn . Đêm 29-4 , đêm cuối cùng , pháo bắn dồn dập vào căn cứ Long Bình , về hướng cầu Đồng Nai . Pháo nổ liên hồi như những hồi chuông vĩnh biệt . Bình minh 30-4 , ngày đen tối bắt đầu . Lịch sử sang trang
BÀI THƠ ĐỂ LẠI CHO ĐỜI
Ta đi trong nắng thu tàn .
Để nghe gió thổi mênh mang cuối hồn
Chợt buồn tắt nắng hoàng hôn
Sáu mươi năm chẵn ta còn nhớ ta
Sao rơi cuối dãy ngân hà
Nguời về với đất bôn ba phận người
Có nghe máu đỏ ngừng trôi ?
Có nghe nhân thế đọc lời cầu kinh ?
Bồng bềnh mây trắng thiên đình
Lửa sân si tắt , lung linh hão huyền
Trăm năm trong cõi bình yên
Xin vô ưu nở xanh miền cỏ hoa